Posts
Popular Posts
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 10
Bài 10: VÀN, PJOM BÁI (NHỜ VẢ, CÁM ƠN) I. HỘI THOẠI 1. A. Háp khẩu nẩy nắc lai, lan ch'oi bảc au khửn bá ỷ nè. B. Ch'ư á. Bảc sle khỏi háp hẩư. A. Bấu náo, bác vàn lan ch'oi au khửn bá chầy. B. Đảy né, pện bảc sle lan háp hẩư pạng nấng. A. Bác đảy pjom lai á. B. Bảc dá cảng pện nè. 2. AN. Hăn cạ bảc Thành m'en hua tót, đây dá lỏ? BẢC THÀNH: Bảc nào đây dá. Vằn ngoà pây háng tầư xá phân cải, mà rườn m e n đang phát, tọ pjom lan Na au da hẩư chin, này nào đợ dá. AN. Chử á, đang phát đảy chin da l'e đây khoái dầy. Bươn ngoà, lan m'en toọng chếp, slải sló đảy pí Na au da hẩư chắng đây cà. BÁC THÀNH: Bản lầu mì lan Na hết y tá, tằng bản đảy pjom. AN: Bảc Thành ạ, hăn cạ bảc m'en đang phát, lan mà dương, mì kỉ nghé mác pẻn chầư bác. BẢC THÀNH: Âừ, bác pjom bái nớ. II. TỪ NGỮ 1) pjom bái: cảm ơn 2) ...
VẤN ĐỀ ÂU VIỆT VÀ LẠC VIỆT
Gần như lâu nay chúng ta có một nhận thức tương đối phổ biến rằng Âu Việt là một quốc gia hoặc một liên minh của các bộ lạc Tày - Thái cổ (Tai cổ), Lạc Việt là một quốc gia hoặc một liên minh các bộ lạc Việt - Mường cổ. Đã có một sự liên minh giữa hai nhóm này tạo ra nước Âu Lạc, nhà nước đầu tiên của người Việt mà các di tích về thành trì còn tồn tại đến ngày nay (thành Cổ Loa). Từ đó dẫn đến nhận thức rằng người Âu Việt là cư dân nói tiếng Tai cổ, còn người Lạc Việt, vì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn - Khmer nhưng bị Tày hóa vào khoảng quanh mốc Công nguyên (khoảng hơn 2000 năm trước đến thời nhà Hán) nên suy ra Lạc Việt là đại diện của những cư dân nói tiếng Môn cổ. Từ đó tách biệt nguồn gốc của hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt. Tuy nhiên liệu điều này có hoàn toàn chính xác? Hôm nay, mời mọi người cùng theo dõi một thuyết chung hòa, diễn gia...
Chiến tranh biên giới, ký ước không thể nào quên
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 18
Bài 18 : P I NOỌNG BẢN C’ON (ANH EM LÁNG GIỀNG) I. HỘI THOẠI AN: Pá pây hâư chế? PÁ: Pá pây Bản Chang. AN: Bản Chang dú tẳm tầư dế, pá? PÁ: Bản Chang dú xạ Cao Sơn. AN: Pá pây Bản Chang, xạ Cao Sơn hết lăng chế? PÁ: Hái dà, lục đếch slam lăng lai dè. Cần ké hâu pây mì fiệc bản, phiệc mường. Vằn ngoà pây háng hăn cần cạ pả Ón pền khẩy, pá t’e pây dương ngòi cón. Tàng bấu pây tẻo lổc nhả cà, p i noọng bấu pây mà pền lác . AN: Pả ón pền khẩy, pá pây dương l’e ch’ư dá. Tọ hâu cạ: slíp p’i noọng tàng quây bấu táy hua đuây tò tó . Ao Cản rườn tẩư tố pền khẩy, dú rườn đảy slam vằn dá, pỉ noọng chang bản pây dương ái lẹo dá, tọ rườn lầu xằng mì cần pây thâng nau ớ. PÁ: Hừ, l’ac mạy tển, l’ac cần rì. Cần chang bản, chang xạ láo lúng tố pền p’i noọng lẹo. T’i hâư lai mạy tứn pền đông, t’i hâư mì lai rườn pền bản, tua cần dú đuổi căn pề...
Popular Posts
VẤN ĐỀ CƯƠNG VỰC NƯỚC ÂU LẠC
Bản đồ nước Âu Lạc giả định Các bộ sử cổ Việt Nam đều không ghi chép về các địa danh hành chính của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương . Sử gia Đào Duy Anh căn cứ theo những ghi chép của thời Triệu và thời thuộc Hán sau này về việc các chính quyền người Hán vẫn duy trì chế độ Lạc tướng của người Lạc Việt tự cai quản trong bộ lạc, xác định rằng việc nhà Hán chia các huyện của vùng đất Âu Lạc cổ là dựa trên cơ sở lãnh địa của các bộ lạc người Việt cũ. Dựa vào đó ta có thể phán đoán được phần nào ranh giới cũng như quy mô của nước Âu Lạc. Sau khi nước Nam Cương (sử Trung Quốc nhiều khi gọi là Tây Vu, tuy nhiên Tây Vu gồm một nhóm lớn bộ lạc và lơn hơn 10 mường của Thục Phán rất nhiều, tuy nhiên xét về bản chất đều do người Tày Thái cổ lập nên thì vẫn có thể chấp nhận được) trở nên hùng mạnh, đã có một liên minh đầu tiên giữa cư dân Nam Cương với Khúc Dương (Khúc Dương là một liên minh bộ lạc Lạc Việt, La...
NÓI XIN CHÀO THEO CÁCH CỦA NGƯỜI TÀY - NÙNG
Các bạn có bao giờ thắc mắc tiếng Tày – Nùng nói “xin chào” như thế nào không? Thực tế câu trả lời là không có từ đích xác để dịch “xin chào” trong tiếng Việt sang tiếng Tày – Nùng. Tại sao vậy? Vậy người Tày – Nùng không chào hỏi ư? Không, không phải như vậy, nhu cầu chào hỏi là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống mà mọi dân tộc, tộc người trên thế giới đều cần tới và lẽ dĩ nhiên mọi ngôn ngữ đều sẽ có cách diễn tả riêng của mình. Đối với tiếng Việt nó là “Xin chào” nhưng với tiếng Anh “hello” không thể dịch ngang nghĩa với xin chào được, “ nĭ hăo 你好 ”tiếng Trung hay “ สวัสดี S̄wạs̄dī” của tiếng Thái lại càng không. Vậy người Tày – Nùng thường chào hỏi theo cách nào? Người Tày – Nùng thường chào hỏi bằng cách đi trực tiếp vào các câu hỏi thường ngày như đi đâu (pây tâư), làm gì (hêt lăng) hay sức khỏe (mì rèng) đây là cách chào hỏi thân thuộc, còn với người lần đầu gặp nếu thấy hơn tuổi thì sẽ gọi luôn anh (pi), chị (slao), cô (a), bác (bảc)….ít tuổi hơn sẽ là em (noọng)...
Tày - Nùng - Choang thuộc nhóm Thái Trung Tâm trong ngữ hệ Thái
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 10
Bài 10: VÀN, PJOM BÁI (NHỜ VẢ, CÁM ƠN) I. HỘI THOẠI 1. A. Háp khẩu nẩy nắc lai, lan ch'oi bảc au khửn bá ỷ nè. B. Ch'ư á. Bảc sle khỏi háp hẩư. A. Bấu náo, bác vàn lan ch'oi au khửn bá chầy. B. Đảy né, pện bảc sle lan háp hẩư pạng nấng. A. Bác đảy pjom lai á. B. Bảc dá cảng pện nè. 2. AN. Hăn cạ bảc Thành m'en hua tót, đây dá lỏ? BẢC THÀNH: Bảc nào đây dá. Vằn ngoà pây háng tầư xá phân cải, mà rườn m e n đang phát, tọ pjom lan Na au da hẩư chin, này nào đợ dá. AN. Chử á, đang phát đảy chin da l'e đây khoái dầy. Bươn ngoà, lan m'en toọng chếp, slải sló đảy pí Na au da hẩư chắng đây cà. BÁC THÀNH: Bản lầu mì lan Na hết y tá, tằng bản đảy pjom. AN: Bảc Thành ạ, hăn cạ bảc m'en đang phát, lan mà dương, mì kỉ nghé mác pẻn chầư bác. BẢC THÀNH: Âừ, bác pjom bái nớ. II. TỪ NGỮ 1) pjom bái: cảm ơn 2) ...
TÌM HIỂU VỀ NÉT ĐẸP HÁT LƯỢN CỦA DÂN TỘC TÀY
Hát lượn ngày xuân của người tày Ảnh: Sưu tầm Lượn vang lên từ nhà, ngoài nương rẫy cho đến khắp các bản mường. Không chỉ thanh niên mà cả người già và trẻ nhỏ cũng hát lượn, họ hát lượn để xua đi cái mệt nhọc, để phô diễn tâm tư, tình cảm. Chính vì thế mà hát lượn trở thành một sinh hoạt văn hóa dân gian mang đậm bản sắc văn hóa Tày. Hát lượn có nhiều làn điệu, thường là thể thơ lục bát, xong cũng có thể là thơ tự do, một câu hỏi hoặc một câu trả lời ngắt đoạn tới 6-7 lần. Mỗi người cần phải có một “vốn” lượn lớn để sẵn sàng ứng xử một cách khéo léo mới mong chiếm được cảm tình người mình muốn làm quen. Người nào hát được nhiều câu lượn hay thì người đó được nhiều người yêu mến vì đó là người thông minh, hiểu biết rộng... Nếu lủng củng hoặc đặt vấn đề sai mục đích thì bị chê là ít hiểu biết, vụng về. Trong những ngày lễ hội hát lượn là dịp để trai thanh nữ tú hát đối đáp nhau rồi vương lại bao nỗi nhớ nhung. Trong lời hát họ thường mượn cỏ cây hoa lá để gửi tình gử...
Popular Posts
CẨU CHỦA CHENG VÙA (CHÍN CHÚA TRANH VUA)
Nước Nam Cương cổ với 10 mường (bộ lạc) Ngày xưa, vào thời vua Thục của nước người Tày, Thục Chế là ông vua đầu tiên đã lập ra nước Nam Cương giáp nước Văn Lang, xưng là An Tự Vương đóng đô ở Nam Bình (vùng Cao Bình, huyện Hòa An ngày nay). Thục Chế làm vua được 60 năm thì mất, con là Thục Phán mới 10 tuổi, lên thay cha làm vua, cháu của Thục Chế là Thục Mô giúp vua Thục Phán nhiếp chính. Nước Nam Cương có 10 xứ mường. Vua Thục cai quản mường chính – hay còn gọi là mường trung tâm, còn các mường kia thì chia cho các chúa ở các vùng cai quản. Thục Phán mới lên ngôi còn rất trẻ, Thục Mô lộng quyền, các chúa thấy vậy không phục bèn kéo quân từ các ngả tiến về bao vây kinh thành Nam Bình (nay là Cao Bình, Hòa An, Cao Bằng). Thục Phán nói: Ta còn ít tuổi, nên các ngài cho rằng, ta chưa xứng đáng làm vua chăng? Cả nước có 9 chúa và chỉ có một vua, bây giờ ta sẽ ra điều kiện, tất cả cùng thi đấu võ, nếu ai thắng thì sẽ được nhường ngôi. Từng vị chúa của chín vùng lần lượt ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 1
Bài 1 : GIỚI THIỆU TIẾNG TÀY-NÙNG, CHỮ TÀY-NÙNG Tiếng Tày, Tiếng Nùng là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai (ngữ chi Tày - Thái), có địa bàn phân bố từ Đảo Hải Nam sang miền nam Hoa lục, bắc Đông Dương, Thái Lan và đông bắc Miến Điện. Trong đó ngữ chi Tày-Thái được chi ra làm 03 nhóm gồm: Thái Phương Bắc (tiếng Choang phương Bắc, Hsi-lin, Tien-chow, Po ai) , Thái Trung Tâm (Tày, Nùng, Choang....) và Thái Tây Nam (tiếng Thái Lan, Lào, Phutai, Ahom...). Ở Việt Nam, tiếng Tày là ngôn ngữ của gần hai triệu người Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chung của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên các địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc. Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ Nôm Tày). Hình thái văn tự này đã để lại cho ngày nay một kho tàng thư tịch cổ rất đồ sộ. Từ những năm đầu thế kỉ 20, nhất là từ những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với sự ph...
Các thì trong tiếng Tày - Nùng
PHU ̣ T Ừ CHI ̉ TH Ờ I GIAN Để chỉ thời của hành động (hay còn gọi là các thì), tiếng Tày - Nùng dùng các phụ từ có ý nghĩa chỉ thời đi kèm theo động từ hoặc để ở cuối câu. Để diễn tả hành động đã xảy ra + Sử dụng dá để ở cuối câu, biểu thị cả cụm đằng trước là việc đã xảy ra. VD: Noọng chin ngài dá : Em ăn cơm trưa rồi. + Đối với câu hỏi để kéng ở cuối câu hỏi, ý là đã hay chưa. VD: Noọng kin ngài kéng? Em đã ăn cơm trưa chưa + náo/ngám/chắng đứng trước động từ thể hiện hành động vừa mới xảy ra, vừa mới kết thúc ở hiện tại. VD: Chài ngám kin: Anh vừa ăn xong. + đế, đế đề đặt trước động từ thể hiện sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ. VD: Câu đế dú Hải Phòng: Tôi đã sống ở Hải Phòng (hiện tại thì không còn ở đó nữa) Để diễn tả hành động đang xảy ra + Sử dụng đang slí đặt trước động từ, chỉ hành động đang diễn ra. VD: Kh’oi đang slí chin ngài . (Đ...
VẤN ĐỀ CƯƠNG VỰC NƯỚC ÂU LẠC
Bản đồ nước Âu Lạc giả định Các bộ sử cổ Việt Nam đều không ghi chép về các địa danh hành chính của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương . Sử gia Đào Duy Anh căn cứ theo những ghi chép của thời Triệu và thời thuộc Hán sau này về việc các chính quyền người Hán vẫn duy trì chế độ Lạc tướng của người Lạc Việt tự cai quản trong bộ lạc, xác định rằng việc nhà Hán chia các huyện của vùng đất Âu Lạc cổ là dựa trên cơ sở lãnh địa của các bộ lạc người Việt cũ. Dựa vào đó ta có thể phán đoán được phần nào ranh giới cũng như quy mô của nước Âu Lạc. Sau khi nước Nam Cương (sử Trung Quốc nhiều khi gọi là Tây Vu, tuy nhiên Tây Vu gồm một nhóm lớn bộ lạc và lơn hơn 10 mường của Thục Phán rất nhiều, tuy nhiên xét về bản chất đều do người Tày Thái cổ lập nên thì vẫn có thể chấp nhận được) trở nên hùng mạnh, đã có một liên minh đầu tiên giữa cư dân Nam Cương với Khúc Dương (Khúc Dương là một liên minh bộ lạc Lạc Việt, La...
VẤN ĐỀ ÂU VIỆT VÀ LẠC VIỆT
Gần như lâu nay chúng ta có một nhận thức tương đối phổ biến rằng Âu Việt là một quốc gia hoặc một liên minh của các bộ lạc Tày - Thái cổ (Tai cổ), Lạc Việt là một quốc gia hoặc một liên minh các bộ lạc Việt - Mường cổ. Đã có một sự liên minh giữa hai nhóm này tạo ra nước Âu Lạc, nhà nước đầu tiên của người Việt mà các di tích về thành trì còn tồn tại đến ngày nay (thành Cổ Loa). Từ đó dẫn đến nhận thức rằng người Âu Việt là cư dân nói tiếng Tai cổ, còn người Lạc Việt, vì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn - Khmer nhưng bị Tày hóa vào khoảng quanh mốc Công nguyên (khoảng hơn 2000 năm trước đến thời nhà Hán) nên suy ra Lạc Việt là đại diện của những cư dân nói tiếng Môn cổ. Từ đó tách biệt nguồn gốc của hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt. Tuy nhiên liệu điều này có hoàn toàn chính xác? Hôm nay, mời mọi người cùng theo dõi một thuyết chung hòa, diễn gia...
TRUYỀN THUYẾT TÀY - NÙNG: 3 TRUYỆN
Sẽ thế nào đây khi ta kết hợp 03 truyền thuyết: Báo Luông – Slao Cải của người Tày – Cao Bằng, Sinh ra từ trong một quả bầu của người Tày – Nùng – Thái với Pú Rọ Đo của người Choang. Một lý giải mang tính hư ảo cho nguồn gốc người Tày – Nùng. Mọi người cùng theo dõi nhé. "...Truyền thuyết kể lại rằng, loài người được sinh ra bởi mối lương duyên tốt đẹp giữa Báo Luông và Slao Cải, một hôm Sao Cải từ Nặm Quét ra vùng đất Pác Măn đuổi nai thì gặp Báo Luông đang săn cáo ở đó. Tình cờ trời đổ mưa , hai người ba chân bốn cẳng chạy về hướng đông, đến động Ngườm Bốc (còn gọi là Ngườm Ngả) thì vào trú mưa trong đó. Trong động núi ấm áp kín đáo, họ chọn làm chỗ ở, sinh con đẻ cái, họ trở nên vợ chồng. Ban đầu sinh ra con cái đi săn bắt muông thú hoặc hái hoa quả trên cây để ăn. Nhưng đàn con vẫn kêu đói nên họ phải lội xuống suối nhặt các con ốc đá về ăn thay bữa… Con cái ngày càng lớn, Sao Cải dạy chúng đi kiếm ăn hàng ngày,...
MỘT GIẢ THIẾT VỀ SỰ PHÂN CHIA CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tày + Nùng +Giáy+ Bố Y theo thống kê năm 2009 tại các tỉnh Việt Nam: >60%Lạng Sơn 78.3%, Cao Bằng 72.1%, Bắc Kạn 62.3% 15%-40% 5%-10% 1%-5% Tại Việt Nam, Tày, Nùng là hai dân tộc khác nhau, tuy nhiên nếu lấy các tiêu chí về ngôn ngữ, văn hóa ra để so sánh thì hai dân tộc có quá nhiều điểm chung, gần gũi. Nếu nói phân chia làm hai dân tộc do ngôn ngữ, thì rõ ràng người Hà Nội và người Nghệ An phải là hai dân tộc, bởi người Hà Nội có lẽ phải căng tai ra mới hiểu người Nghệ An nói gì. Nếu nói chia ra làm hai dân tộc do văn hóa thì có lẽ người Hà Nội và người Sài Gòn cũng nên là hai dân tộc khác nhau, bởi lối sống, văn hóa nhiều khác biệt, trong khi Tày, Nùng rất khó để phân ra đâu là đặc trưng của Tày, đâu là đặc trưng của Nùng. Nếu nói chia ra làm hai dân tộc ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 24
Bài 24: TÁNG CHIỀNG ĐANG CÁU (GIỚI THIỆU BẢN THÂN) I. HỘI THOẠI Tình huống giao tiếp: Cán bộ Liên gặp Chủ tịch Thao. LIÊN : Lan chào pả Thao. THAO : Lan l’o, mì fiệc lăng đây? LIÊN : Dạ, lan tên roọng cạ Liên, Ma Thị Liên. Lan dú Phòng thú y. Lan đảy huyện phân công mà nẩy bàn đuổi xạ chướng chực mu cáy pền thai l’a. Lan ái pả pang lan kỉ fiệc . THAO : A lối, pện lẻ đây lai á. Tọ ch’i ch’ai cón. Ca này pả lan lầu phuối tuyện cón. Lan l’e cần t’i phuông hâư chế? LIÊN: Lan l’e cần Tày , dú Tuyên Quang . THAO: Cần ké nhằng lèng lẹo chả lá? LIÊN : Pjom bái pả. Cần ké lan nhằng lèng lẹo chầy. P’o cá m’ưa cón hết hiệu trưởng, tọ ca nà đảy hưu dá. M’e á l’e y sị, tọ củng mà rườn ch’ai dá. Nhằng lan l’e lục pjai, pi nẩy náo đảy nhi hả. Lan slon trường Đại học Nông Lâm mà, đảy slam pi dá. THAO : Chắng đảy nh’i hả, dò nhằng ón lai a; xằng táng chín nau l...
Người truyền lệnh bằng tiếng Tày trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Đó là ông Mông Đức Ngô, 87 tuổi, người dân tộc Tày ở xã Phượng Tiến, (Định Hóa), nguyên là Trung đội trưởng Trung đội Thông tin liên lạc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chuyến “Trở lại Điện Biên” cùng với hơn 40 cựu chiến sĩ Điện Biên và thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên thăm lại chiến trường xưa dịp tháng Ba vừa qua, tôi đã được trò chuyện cùng ông. Ông kể: Năm 1946, ông nhập ngũ vào một đơn vị của Trung đoàn Bộ binh 246. Đầu năm 1947, ông được điều về Đại đội 32, thuộc Bộ Tổng Tham mưu, có nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng tại ATK Định Hóa. Cuối tháng 12-1953, ông được điều động lên Chiến dịch Điện Biên Phủ và giữ chức vụ Trung đội trưởng Thông tin liên lạc. Khi đó, tình hình chiến trường Tây Bắc rất phức tạp và cam go, lực lượng thông tin của ông phải có trách nhiệm giải các đường dây từ Sở chỉ huy đến các binh chủng trong trận địa và các đơn vị hậu cần phục vụ Chiến dịch. Tháng 3-1954, thời gian này được coi là đỉnh điểm của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 42
BÀI 42: VẰN GIAO QUÂN DÚ XẠ (NGÀY GIAO QUÂN Ở XÃ) Vằn nẩy l'e so slam bươn Nh'i, ngám lẹo nèn dá. Xạ lầu tằng bại xạ đâng huyện tổ chức vằn giao quân. Khoan tố pây slống p'i chài pây hết nghịa vụ pi nẩy. Dú noọc trụ sở uỷ ban, bân đin nhằng tồng cạ bươn Chiêng: Tha vằn chắng khửn qúa pù khau Sliểm đảy và nâng, đét nhằng ón, lồm xuân bươn Nhì pấu phè phè ún on. Bại co tào, co mặn, co lì… bjoóc phông lường; nộc ẻn, nộc thua, nộc kéo…tua bân liệng nưa slung, tua chắp khẩu cáng bjoóc…thi căn khăn roọng, hết hẩư không khí vằn hội giao quân pền cạ vằn hội cải cúa tằng xạ. Tứ bại kha tàng, p'i noọng thanh niên, nhình chài, slao, báo tằng cần ké, noọng eng tố chùa căn oóc mà slống p'i chài, noọng chài, lục chài, phua rụ cần điếp pây hết nghịa vụ xáu đin rườn. Bại p'i noọng pây hết nghịa vụ pi nẩy chăn mạnh lèng, kheng khứn, tha nả lủng roàng; cần hâư tố slon lẹo phổ thông tứ chang pi, mì cần nhằng thi khẩu đảy đại học dá tố nhằng xung phong pây bộ đội...