Posts
Popular Posts
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 24
Bài 24: TÁNG CHIỀNG ĐANG CÁU (GIỚI THIỆU BẢN THÂN) I. HỘI THOẠI Tình huống giao tiếp: Cán bộ Liên gặp Chủ tịch Thao. LIÊN : Lan chào pả Thao. THAO : Lan l’o, mì fiệc lăng đây? LIÊN : Dạ, lan tên roọng cạ Liên, Ma Thị Liên. Lan dú Phòng thú y. Lan đảy huyện phân công mà nẩy bàn đuổi xạ chướng chực mu cáy pền thai l’a. Lan ái pả pang lan kỉ fiệc . THAO : A lối, pện lẻ đây lai á. Tọ ch’i ch’ai cón. Ca này pả lan lầu phuối tuyện cón. Lan l’e cần t’i phuông hâư chế? LIÊN: Lan l’e cần Tày , dú Tuyên Quang . THAO: Cần ké nhằng lèng lẹo chả lá? LIÊN : Pjom bái pả. Cần ké lan nhằng lèng lẹo chầy. P’o cá m’ưa cón hết hiệu trưởng, tọ ca nà đảy hưu dá. M’e á l’e y sị, tọ củng mà rườn ch’ai dá. Nhằng lan l’e lục pjai, pi nẩy náo đảy nhi hả. Lan slon trường Đại học Nông Lâm mà, đảy slam pi dá. THAO : Chắng đảy nh’i hả, dò nhằng ón lai a; xằng táng chín nau l...
Mac phì phà - Quả nhót Tây
Các thì trong tiếng Tày - Nùng
PHU ̣ T Ừ CHI ̉ TH Ờ I GIAN Để chỉ thời của hành động (hay còn gọi là các thì), tiếng Tày - Nùng dùng các phụ từ có ý nghĩa chỉ thời đi kèm theo động từ hoặc để ở cuối câu. Để diễn tả hành động đã xảy ra + Sử dụng dá để ở cuối câu, biểu thị cả cụm đằng trước là việc đã xảy ra. VD: Noọng chin ngài dá : Em ăn cơm trưa rồi. + Đối với câu hỏi để kéng ở cuối câu hỏi, ý là đã hay chưa. VD: Noọng kin ngài kéng? Em đã ăn cơm trưa chưa + náo/ngám/chắng đứng trước động từ thể hiện hành động vừa mới xảy ra, vừa mới kết thúc ở hiện tại. VD: Chài ngám kin: Anh vừa ăn xong. + đế, đế đề đặt trước động từ thể hiện sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ. VD: Câu đế dú Hải Phòng: Tôi đã sống ở Hải Phòng (hiện tại thì không còn ở đó nữa) Để diễn tả hành động đang xảy ra + Sử dụng đang slí đặt trước động từ, chỉ hành động đang diễn ra. VD: Kh’oi đang slí chin ngài . (Đ...
SỰ HÌNH THÀNH TIẾNG VIỆT
SỰ HÌNH THÀNH TIẾNG VIỆT ( Bài dịch vẫn dựa trên bài viết của nhà nghiên cứu Đông Á học Alex Lau ) Giới thiệu : Lịch sử phát triển của tiếng Việt hiện đại được tóm tắt như sơ đồ bên dưới cùng bài viết này 1. Tiếng Lạc Việt : Trong suốt lịch sử nhà nước Văn Lang từ năm 2879-258TCN, những người bản địa sống ở đồng bằng sông Hồng nói tiếng Tai-Kadai là một ngôn ngữ đơn âm và có âm sắc. Họ là những người Lạc Việt và có chung tổ tiên với những người nói tiếng Tai ở Quảng Tây TQ 2. Tiếng Hán Việt : Trong thời kỳ đầu định cư của người Hán ở đồng bằng sông Hồng, có 2 ngôn ngữ chính được nói ở đây : tiếng Hán Nam Việt và tiếng Lạc Việt. Hán Nam Việt được các quan lại quân lính người Hán nói và Lạc Việt do người bản địa nói Đến cuối đời Đường tức là sau khoảng 1200 năm định cư ở châu thổ sông Hồng từ năm 257 TCN tới 938 SCN, một thổ ngữ gọi là tiếng Hán Việt ra đời và được nói bởi hầu hết người Kinh ở đây. Tiếng Hán Việt này phát triển tương tự như sự phát triển của ...
Popular Posts
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 24
Bài 24: TÁNG CHIỀNG ĐANG CÁU (GIỚI THIỆU BẢN THÂN) I. HỘI THOẠI Tình huống giao tiếp: Cán bộ Liên gặp Chủ tịch Thao. LIÊN : Lan chào pả Thao. THAO : Lan l’o, mì fiệc lăng đây? LIÊN : Dạ, lan tên roọng cạ Liên, Ma Thị Liên. Lan dú Phòng thú y. Lan đảy huyện phân công mà nẩy bàn đuổi xạ chướng chực mu cáy pền thai l’a. Lan ái pả pang lan kỉ fiệc . THAO : A lối, pện lẻ đây lai á. Tọ ch’i ch’ai cón. Ca này pả lan lầu phuối tuyện cón. Lan l’e cần t’i phuông hâư chế? LIÊN: Lan l’e cần Tày , dú Tuyên Quang . THAO: Cần ké nhằng lèng lẹo chả lá? LIÊN : Pjom bái pả. Cần ké lan nhằng lèng lẹo chầy. P’o cá m’ưa cón hết hiệu trưởng, tọ ca nà đảy hưu dá. M’e á l’e y sị, tọ củng mà rườn ch’ai dá. Nhằng lan l’e lục pjai, pi nẩy náo đảy nhi hả. Lan slon trường Đại học Nông Lâm mà, đảy slam pi dá. THAO : Chắng đảy nh’i hả, dò nhằng ón lai a; xằng táng chín nau l...
Các thì trong tiếng Tày - Nùng
PHU ̣ T Ừ CHI ̉ TH Ờ I GIAN Để chỉ thời của hành động (hay còn gọi là các thì), tiếng Tày - Nùng dùng các phụ từ có ý nghĩa chỉ thời đi kèm theo động từ hoặc để ở cuối câu. Để diễn tả hành động đã xảy ra + Sử dụng dá để ở cuối câu, biểu thị cả cụm đằng trước là việc đã xảy ra. VD: Noọng chin ngài dá : Em ăn cơm trưa rồi. + Đối với câu hỏi để kéng ở cuối câu hỏi, ý là đã hay chưa. VD: Noọng kin ngài kéng? Em đã ăn cơm trưa chưa + náo/ngám/chắng đứng trước động từ thể hiện hành động vừa mới xảy ra, vừa mới kết thúc ở hiện tại. VD: Chài ngám kin: Anh vừa ăn xong. + đế, đế đề đặt trước động từ thể hiện sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ. VD: Câu đế dú Hải Phòng: Tôi đã sống ở Hải Phòng (hiện tại thì không còn ở đó nữa) Để diễn tả hành động đang xảy ra + Sử dụng đang slí đặt trước động từ, chỉ hành động đang diễn ra. VD: Kh’oi đang slí chin ngài . (Đ...
Lận đận số phận slư nam người Tày
Slư nam là chữ nôm Tày. Slư là chữ. Nam là nôm. Vậy slư nam xuất hiện từ bao giờ? Một câu hỏi cho đến tận ngày nay vẫn còn bỏ ngỏ. Vậy chữ nôm Tày như thế nào? Có người nói chữ nôm Tày cấu tạo như chữ nôm Kinh. Có nghĩa là nôm Tày xuất hiện sau nôm Kinh. Điều đó hình như có lý? Nhưng lại có người nói ngược lại. Chữ nôm Tày có trước chữ nôm Kinh? Song, tất cả chưa có câu trả lời một cách xác đáng. "Năm 1592, Mạc Kính Cung lên Cao Bằng. Năm 1594, xưng vua là Càn Thống, đặt vương phủ tại Nà Lự Cao Bình. Mạc Kính Cung đã chấn chỉnh kỷ cương mọi mặt, cắt đặt mọi việc như lúc triều đình còn ở kinh đô Thăng Long, chăm lo thu phục lòng dân, mở trường quốc học, mở khoa thi, thu dụng nhân tài..."; "Về giáo dục, vua Mạc Kính Cung mở trường Quốc học ở Bản Thảnh - Cao Bình. Trường đào tạo được nhiều môn sinh có tài, có đức. Các môn sinh đã tỏa ra các vùng trong tỉnh, mở lớp dạy chữ hán, chữ nôm, nhờ đó đã xóa được nạn mù chữ cho dân. Cứ ba năm, lại tổ chức thi hương, thi hội...
SỰ HÌNH THÀNH TIẾNG VIỆT
SỰ HÌNH THÀNH TIẾNG VIỆT ( Bài dịch vẫn dựa trên bài viết của nhà nghiên cứu Đông Á học Alex Lau ) Giới thiệu : Lịch sử phát triển của tiếng Việt hiện đại được tóm tắt như sơ đồ bên dưới cùng bài viết này 1. Tiếng Lạc Việt : Trong suốt lịch sử nhà nước Văn Lang từ năm 2879-258TCN, những người bản địa sống ở đồng bằng sông Hồng nói tiếng Tai-Kadai là một ngôn ngữ đơn âm và có âm sắc. Họ là những người Lạc Việt và có chung tổ tiên với những người nói tiếng Tai ở Quảng Tây TQ 2. Tiếng Hán Việt : Trong thời kỳ đầu định cư của người Hán ở đồng bằng sông Hồng, có 2 ngôn ngữ chính được nói ở đây : tiếng Hán Nam Việt và tiếng Lạc Việt. Hán Nam Việt được các quan lại quân lính người Hán nói và Lạc Việt do người bản địa nói Đến cuối đời Đường tức là sau khoảng 1200 năm định cư ở châu thổ sông Hồng từ năm 257 TCN tới 938 SCN, một thổ ngữ gọi là tiếng Hán Việt ra đời và được nói bởi hầu hết người Kinh ở đây. Tiếng Hán Việt này phát triển tương tự như sự phát triển của ...
TÌM HIỂU CÁCH THỨC SỬ DỤNG TRỐNG ĐỒNG
Trống đồng Đông Sơn là di vật tiêu biểu nhất, đặc trưng nhất của nền văn hóa Đông Sơn. Trong 90 năm qua, kể từ ngày phát hiện văn hóa Đông Sơn, trống đồng Đông Sơn luôn được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu về tất cả các khía cạnh. Tuy nhiên, về chức năng cũng như cách thức sử dụng của trống đồng Đông Sơn vẫn chưa thực sự đồng nhất các quan điểm. Có ý kiến cho rằng, đây đơn thuần chỉ là một nhạc khí, nhưng cũng có ý kiến lại cho đây là vật biểu trưng quyền lực hoặc vừa là nhạc khí vừa là biểu trưng quyền lực. Song, xét về chung mọi ý kiến thì trống đồng là một loại nhạc khí được nhiều người công nhận hơn cả. Là nhạc khí thì việc sử dụng nó được tiến hành ra sao? Vấn đề này cũng được các nhà khoa học dày công nghiên cứu. Việc nghiên cứu chủ yếu dựa trên các tư liệu về khảo cổ học và dân tộc học. Thông qua các tư liệu về khảo cổ học Trên khía cạnh khảo cổ học, nghiên cứu cách thức sử dụng trống đồng như một nhạc khí được căn cứ trên các đặc điểm trên bề mặt trống như cấ...
Popular Posts
CẨU CHỦA CHENG VÙA (CHÍN CHÚA TRANH VUA)
Nước Nam Cương cổ với 10 mường (bộ lạc) Ngày xưa, vào thời vua Thục của nước người Tày, Thục Chế là ông vua đầu tiên đã lập ra nước Nam Cương giáp nước Văn Lang, xưng là An Tự Vương đóng đô ở Nam Bình (vùng Cao Bình, huyện Hòa An ngày nay). Thục Chế làm vua được 60 năm thì mất, con là Thục Phán mới 10 tuổi, lên thay cha làm vua, cháu của Thục Chế là Thục Mô giúp vua Thục Phán nhiếp chính. Nước Nam Cương có 10 xứ mường. Vua Thục cai quản mường chính – hay còn gọi là mường trung tâm, còn các mường kia thì chia cho các chúa ở các vùng cai quản. Thục Phán mới lên ngôi còn rất trẻ, Thục Mô lộng quyền, các chúa thấy vậy không phục bèn kéo quân từ các ngả tiến về bao vây kinh thành Nam Bình (nay là Cao Bình, Hòa An, Cao Bằng). Thục Phán nói: Ta còn ít tuổi, nên các ngài cho rằng, ta chưa xứng đáng làm vua chăng? Cả nước có 9 chúa và chỉ có một vua, bây giờ ta sẽ ra điều kiện, tất cả cùng thi đấu võ, nếu ai thắng thì sẽ được nhường ngôi. Từng vị chúa của chín vùng lần lượt ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 1
Bài 1 : GIỚI THIỆU TIẾNG TÀY-NÙNG, CHỮ TÀY-NÙNG Tiếng Tày, Tiếng Nùng là một ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai (ngữ chi Tày - Thái), có địa bàn phân bố từ Đảo Hải Nam sang miền nam Hoa lục, bắc Đông Dương, Thái Lan và đông bắc Miến Điện. Trong đó ngữ chi Tày-Thái được chi ra làm 03 nhóm gồm: Thái Phương Bắc (tiếng Choang phương Bắc, Hsi-lin, Tien-chow, Po ai) , Thái Trung Tâm (Tày, Nùng, Choang....) và Thái Tây Nam (tiếng Thái Lan, Lào, Phutai, Ahom...). Ở Việt Nam, tiếng Tày là ngôn ngữ của gần hai triệu người Tày, ngoài ra còn là ngôn ngữ giao tiếp chung của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên các địa bàn Việt Bắc và Tây Bắc. Tiếng Tày là ngôn ngữ có chữ viết cổ dựa trên cơ sở chữ Hán (chữ Nôm Tày). Hình thái văn tự này đã để lại cho ngày nay một kho tàng thư tịch cổ rất đồ sộ. Từ những năm đầu thế kỉ 20, nhất là từ những năm kháng chiến chống Pháp, cùng với sự ph...
Các thì trong tiếng Tày - Nùng
PHU ̣ T Ừ CHI ̉ TH Ờ I GIAN Để chỉ thời của hành động (hay còn gọi là các thì), tiếng Tày - Nùng dùng các phụ từ có ý nghĩa chỉ thời đi kèm theo động từ hoặc để ở cuối câu. Để diễn tả hành động đã xảy ra + Sử dụng dá để ở cuối câu, biểu thị cả cụm đằng trước là việc đã xảy ra. VD: Noọng chin ngài dá : Em ăn cơm trưa rồi. + Đối với câu hỏi để kéng ở cuối câu hỏi, ý là đã hay chưa. VD: Noọng kin ngài kéng? Em đã ăn cơm trưa chưa + náo/ngám/chắng đứng trước động từ thể hiện hành động vừa mới xảy ra, vừa mới kết thúc ở hiện tại. VD: Chài ngám kin: Anh vừa ăn xong. + đế, đế đề đặt trước động từ thể hiện sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ. VD: Câu đế dú Hải Phòng: Tôi đã sống ở Hải Phòng (hiện tại thì không còn ở đó nữa) Để diễn tả hành động đang xảy ra + Sử dụng đang slí đặt trước động từ, chỉ hành động đang diễn ra. VD: Kh’oi đang slí chin ngài . (Đ...
VẤN ĐỀ CƯƠNG VỰC NƯỚC ÂU LẠC
Bản đồ nước Âu Lạc giả định Các bộ sử cổ Việt Nam đều không ghi chép về các địa danh hành chính của nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương . Sử gia Đào Duy Anh căn cứ theo những ghi chép của thời Triệu và thời thuộc Hán sau này về việc các chính quyền người Hán vẫn duy trì chế độ Lạc tướng của người Lạc Việt tự cai quản trong bộ lạc, xác định rằng việc nhà Hán chia các huyện của vùng đất Âu Lạc cổ là dựa trên cơ sở lãnh địa của các bộ lạc người Việt cũ. Dựa vào đó ta có thể phán đoán được phần nào ranh giới cũng như quy mô của nước Âu Lạc. Sau khi nước Nam Cương (sử Trung Quốc nhiều khi gọi là Tây Vu, tuy nhiên Tây Vu gồm một nhóm lớn bộ lạc và lơn hơn 10 mường của Thục Phán rất nhiều, tuy nhiên xét về bản chất đều do người Tày Thái cổ lập nên thì vẫn có thể chấp nhận được) trở nên hùng mạnh, đã có một liên minh đầu tiên giữa cư dân Nam Cương với Khúc Dương (Khúc Dương là một liên minh bộ lạc Lạc Việt, La...
VẤN ĐỀ ÂU VIỆT VÀ LẠC VIỆT
Gần như lâu nay chúng ta có một nhận thức tương đối phổ biến rằng Âu Việt là một quốc gia hoặc một liên minh của các bộ lạc Tày - Thái cổ (Tai cổ), Lạc Việt là một quốc gia hoặc một liên minh các bộ lạc Việt - Mường cổ. Đã có một sự liên minh giữa hai nhóm này tạo ra nước Âu Lạc, nhà nước đầu tiên của người Việt mà các di tích về thành trì còn tồn tại đến ngày nay (thành Cổ Loa). Từ đó dẫn đến nhận thức rằng người Âu Việt là cư dân nói tiếng Tai cổ, còn người Lạc Việt, vì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Môn - Khmer nhưng bị Tày hóa vào khoảng quanh mốc Công nguyên (khoảng hơn 2000 năm trước đến thời nhà Hán) nên suy ra Lạc Việt là đại diện của những cư dân nói tiếng Môn cổ. Từ đó tách biệt nguồn gốc của hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt. Tuy nhiên liệu điều này có hoàn toàn chính xác? Hôm nay, mời mọi người cùng theo dõi một thuyết chung hòa, diễn gia...
TRUYỀN THUYẾT TÀY - NÙNG: 3 TRUYỆN
Sẽ thế nào đây khi ta kết hợp 03 truyền thuyết: Báo Luông – Slao Cải của người Tày – Cao Bằng, Sinh ra từ trong một quả bầu của người Tày – Nùng – Thái với Pú Rọ Đo của người Choang. Một lý giải mang tính hư ảo cho nguồn gốc người Tày – Nùng. Mọi người cùng theo dõi nhé. "...Truyền thuyết kể lại rằng, loài người được sinh ra bởi mối lương duyên tốt đẹp giữa Báo Luông và Slao Cải, một hôm Sao Cải từ Nặm Quét ra vùng đất Pác Măn đuổi nai thì gặp Báo Luông đang săn cáo ở đó. Tình cờ trời đổ mưa , hai người ba chân bốn cẳng chạy về hướng đông, đến động Ngườm Bốc (còn gọi là Ngườm Ngả) thì vào trú mưa trong đó. Trong động núi ấm áp kín đáo, họ chọn làm chỗ ở, sinh con đẻ cái, họ trở nên vợ chồng. Ban đầu sinh ra con cái đi săn bắt muông thú hoặc hái hoa quả trên cây để ăn. Nhưng đàn con vẫn kêu đói nên họ phải lội xuống suối nhặt các con ốc đá về ăn thay bữa… Con cái ngày càng lớn, Sao Cải dạy chúng đi kiếm ăn hàng ngày,...
MỘT GIẢ THIẾT VỀ SỰ PHÂN CHIA CÁC DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Bản đồ phân bố tỷ lệ phần trăm người Tày + Nùng +Giáy+ Bố Y theo thống kê năm 2009 tại các tỉnh Việt Nam: >60%Lạng Sơn 78.3%, Cao Bằng 72.1%, Bắc Kạn 62.3% 15%-40% 5%-10% 1%-5% Tại Việt Nam, Tày, Nùng là hai dân tộc khác nhau, tuy nhiên nếu lấy các tiêu chí về ngôn ngữ, văn hóa ra để so sánh thì hai dân tộc có quá nhiều điểm chung, gần gũi. Nếu nói phân chia làm hai dân tộc do ngôn ngữ, thì rõ ràng người Hà Nội và người Nghệ An phải là hai dân tộc, bởi người Hà Nội có lẽ phải căng tai ra mới hiểu người Nghệ An nói gì. Nếu nói chia ra làm hai dân tộc do văn hóa thì có lẽ người Hà Nội và người Sài Gòn cũng nên là hai dân tộc khác nhau, bởi lối sống, văn hóa nhiều khác biệt, trong khi Tày, Nùng rất khó để phân ra đâu là đặc trưng của Tày, đâu là đặc trưng của Nùng. Nếu nói chia ra làm hai dân tộc ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 24
Bài 24: TÁNG CHIỀNG ĐANG CÁU (GIỚI THIỆU BẢN THÂN) I. HỘI THOẠI Tình huống giao tiếp: Cán bộ Liên gặp Chủ tịch Thao. LIÊN : Lan chào pả Thao. THAO : Lan l’o, mì fiệc lăng đây? LIÊN : Dạ, lan tên roọng cạ Liên, Ma Thị Liên. Lan dú Phòng thú y. Lan đảy huyện phân công mà nẩy bàn đuổi xạ chướng chực mu cáy pền thai l’a. Lan ái pả pang lan kỉ fiệc . THAO : A lối, pện lẻ đây lai á. Tọ ch’i ch’ai cón. Ca này pả lan lầu phuối tuyện cón. Lan l’e cần t’i phuông hâư chế? LIÊN: Lan l’e cần Tày , dú Tuyên Quang . THAO: Cần ké nhằng lèng lẹo chả lá? LIÊN : Pjom bái pả. Cần ké lan nhằng lèng lẹo chầy. P’o cá m’ưa cón hết hiệu trưởng, tọ ca nà đảy hưu dá. M’e á l’e y sị, tọ củng mà rườn ch’ai dá. Nhằng lan l’e lục pjai, pi nẩy náo đảy nhi hả. Lan slon trường Đại học Nông Lâm mà, đảy slam pi dá. THAO : Chắng đảy nh’i hả, dò nhằng ón lai a; xằng táng chín nau l...
Người truyền lệnh bằng tiếng Tày trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
Đó là ông Mông Đức Ngô, 87 tuổi, người dân tộc Tày ở xã Phượng Tiến, (Định Hóa), nguyên là Trung đội trưởng Trung đội Thông tin liên lạc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chuyến “Trở lại Điện Biên” cùng với hơn 40 cựu chiến sĩ Điện Biên và thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên thăm lại chiến trường xưa dịp tháng Ba vừa qua, tôi đã được trò chuyện cùng ông. Ông kể: Năm 1946, ông nhập ngũ vào một đơn vị của Trung đoàn Bộ binh 246. Đầu năm 1947, ông được điều về Đại đội 32, thuộc Bộ Tổng Tham mưu, có nhiệm vụ bảo vệ Trung ương Đảng tại ATK Định Hóa. Cuối tháng 12-1953, ông được điều động lên Chiến dịch Điện Biên Phủ và giữ chức vụ Trung đội trưởng Thông tin liên lạc. Khi đó, tình hình chiến trường Tây Bắc rất phức tạp và cam go, lực lượng thông tin của ông phải có trách nhiệm giải các đường dây từ Sở chỉ huy đến các binh chủng trong trận địa và các đơn vị hậu cần phục vụ Chiến dịch. Tháng 3-1954, thời gian này được coi là đỉnh điểm của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi ...
SLON PHUỐI TÀY - NÙNG. BÀI 42
BÀI 42: VẰN GIAO QUÂN DÚ XẠ (NGÀY GIAO QUÂN Ở XÃ) Vằn nẩy l'e so slam bươn Nh'i, ngám lẹo nèn dá. Xạ lầu tằng bại xạ đâng huyện tổ chức vằn giao quân. Khoan tố pây slống p'i chài pây hết nghịa vụ pi nẩy. Dú noọc trụ sở uỷ ban, bân đin nhằng tồng cạ bươn Chiêng: Tha vằn chắng khửn qúa pù khau Sliểm đảy và nâng, đét nhằng ón, lồm xuân bươn Nhì pấu phè phè ún on. Bại co tào, co mặn, co lì… bjoóc phông lường; nộc ẻn, nộc thua, nộc kéo…tua bân liệng nưa slung, tua chắp khẩu cáng bjoóc…thi căn khăn roọng, hết hẩư không khí vằn hội giao quân pền cạ vằn hội cải cúa tằng xạ. Tứ bại kha tàng, p'i noọng thanh niên, nhình chài, slao, báo tằng cần ké, noọng eng tố chùa căn oóc mà slống p'i chài, noọng chài, lục chài, phua rụ cần điếp pây hết nghịa vụ xáu đin rườn. Bại p'i noọng pây hết nghịa vụ pi nẩy chăn mạnh lèng, kheng khứn, tha nả lủng roàng; cần hâư tố slon lẹo phổ thông tứ chang pi, mì cần nhằng thi khẩu đảy đại học dá tố nhằng xung phong pây bộ đội...